1
Bạn cần hỗ trợ?

Hotline: 0935 517 567 - 0236 653 2353

Bật mí nguồn gốc và ý nghĩa chữ Song Hỷ trong ngày cưới

Ảnh hưởng từ nền văn hóa Trung Hoa, nên hiện nay trong lễ ăn hỏi hay đám cưới của người Việt Nam, chữ Song Hỷ màu đỏ xuất hiện rất nhiều, từ thiệp cưới, phông cưới đến tráp cưới hỏi… Chữ Song Hỷ còn được dùng để thông báo về việc cưới hỏi bằng cách dán ngoài ngõ, trong nhà…

Không khó để bắt gặp hình ảnh chữ Song Hỷ mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp trong ngày cưới nhưng không phải ai cũng biết về nguồn gốc sâu xa của chữ này. NaRy Wedding sẽ cung cấp một số thông tin về nguồn gốc cũng như ý nghĩa của chữ Song Hỷ để các cặp đôi hiểu hơn nhé.

1. Ý nghĩa của chữ Song Hỷ

Song Hỷ ngày xưa được hiểu theo hai nghĩa là đại khoa (đỗ đạt trong thi cử) và tiểu khoa (dựng vợ gả chồng- lấy vợ). Song hỷ là hai niềm vui lớn trọng đại của một nam nhân trưởng thành. Đỗ đạt khoa cử, công thành danh toại, có vị thế cao. Việc hệ trọng thứ hai là nối dõi tông đường, lấy được tiểu thư khuê các, cành vàng lá ngọc, may mắn trong đường tình duyên.

Ngày nay song hỷ lâm môn ở đây được hiểu theo nghĩa hiện đại. Chữ Song Hỷ trong đám cưới hỏi còn mang ý nghĩa của niềm vui đôi bên gia đình, họ hàng hai bên nhà trai cưới được vợ cho con trai, nhà gái gả được chồng cho con gái. Và là niềm hạnh phúc đôi lứa của các cặp đôi.

Song Hỷ trên mâm trầu cau trong lễ cưới hỏi Song Hỷ trên mâm rượu trà trong lễ cưới hỏi Song Hỷ trên mâm nem công chả phụng trong lễ cưới hỏi

Hình ảnh chữ Song Hỷ trên các mâm lễ cưới hỏi của người Việt Nam

Nói chung lại, chữ Song Hỷ mang nhiều tượng trưng cho sự may mắn và tốt đẹp, niềm vui trong học hành, thi cử và nhân duyên thuận lợi trong tình yêu.

Xem thêm: Nóng hổi trào lưu chụp ảnh cưới với trang phục Trung Quốc

2. Nguồn gốc chữ Song Hỷ

Tranh vẽ chân dung Vương An Thạch

Chữ Song Hỷ trong đám cưới gắn với một giai thoại đẹp, đầy yếu tố may mắn, trời định về tình duyên, thi cử của bậc danh sĩ nổi tiếng đời nhà Tống, một trong “Đường Tống bát đại gia” – Vương An Thạch. Giai thoại về ông liên quan đến chữ song hỷ như sau:

Từ nhỏ ông đã rất thông minh, khi lớn lên học rộng tài cao, khi 20 tuổi ông lên kinh thành – cách quê khoảng 200 dặm - để thi khoa cử. Dọc đường ông có đi qua một vùng đất giàu có và  trù phú, tại đó nhà Mã Viên Ngoại đang mở hội mừng thọ. Trong nhà treo đèn kết hoa rực rỡ, khách khứa ra vào đông như hội. Bên ngoài cổng có treo một lồng đèn lớn, kẻ qua người lại xúm nhau xem xét, bàn tán. Vương An Thạch thấy lạ, ghé vào nhìn thì thấy trên đèn kéo quân dán một vế đối:

“Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ” được dịch là (Ngựa chạy theo đèn, đèn chạy theo ngựa, đèn tắt, ngựa dừng chân).

Ông không đối được nhưng vẫn mạnh bạo nói rằng “Câu này dễ đối thôi”, rồi bỏ đi. Người nhà của Mã Viên ngoại nghe được, chưa kịp vào trình với Viên ngoại thì Vương An Thạch đã lên đường lên kinh đô.

Do học rộng tài cao, trong kỳ thi ông làm bài và nộp đầu tiên, quan chủ khảo lật ra xem, tấm tắc khen tài, vấn đáp ông trả lời trôi chảy đã có ý lấy ông đỗ đầu. Thấy vậy nhà vua lên cho gọi ông để thử tài, đề ra một câu đối:

“Phi kỳ hổ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân” (được tạm dịch là: Hổ bay theo cờ, cờ bay theo hổ, cờ cuốn, hổ ẩn mình).

Vương An Thạch chợt nhớ tới vế đối trên đèn kéo quân trước nhà Mã Viên ngoại và thấy âm, ý rất hay và rất chỉnh khi đối với câu nay liền ứng khẩu đọc luôn câu đối đã đọc trên đèn kéo quân. Nhà vua và các quan chủ khảo chấm ông đỗ đầu bảng khoa thi năm đó.

Khi trở về quê nhà vinh hoa bái tổ, Vương Anh Thạch đi qua nhà viên ngoại, người hầu của ông nhận ra Vương An Thạch và đã đưa anh ta lên trình diện Mã viên ngoại, yêu cầu trả lời câu đối. Ông dùng chính câu đối của nhà vua đối lại. Mã Viên ngoại vô cùng mừng rỡ, thấy vế đối rất chỉnh, rất khéo lại ẩn ý khoe tương lai nên nói với Vương An Thạch rằng: “Vế đối dán trên đèn kéo quân là của con gái lão, nó kén chồng nên thách đối như thế, nếu ai đối được nó mới đồng ý lấy làm chồng. Để lão gọi con gái lão ra cho hai đàng giáp mặt. Sau đó, đám cưới được tổ chức linh đình tại Mã gia trang”.

Nhờ sự nhanh trí nhạy bén của mình Vương An Thạch vừa đỗ đầu khoa thi vừa cưới được vợ đẹp, lễ cưới được tổ chức rộn ràng tại Gia Trang. Lúc đó triều đình đăng tên bảng vàng, An Thạch cùng lúc nhân đôi niềm vui đỗ trang nguyên khoa cử, cưới được vợ đẹp. Ông ngâm nga “Vận may đối đáp thành song hỷ – Cờ hổ, đèn quân kết vợ chồng” ông bèn viết ra hai chữ hỷ cạnh nhau đọc theo vần điệu là xieng xi (phiên âm: song hỷ) với dụng ý là hai việc tốt lành. Với việc viết hai chữ hỷ đám cưới liền nhau đọc là “song hỷ”, vị Trạng nguyên tài danh này đã sáng tạo ra một chữ mới, chữ song hỷ. Như vậy, nguồn gốc của chữ song hỷ là do điển tích vừa cưới được vợ đẹp giỏi, vừa thi đậu Trạng nguyên.

 

Các kiểu chữ song hỷ đẹp

 

Chữ Song Hỷ dù ở bất cứ thời kỳ nào cũng đều mang những ý nghĩa tốt lành mang lại nhiều may mắn, trọn vẹn, là một biểu trưng không thể thiếu trong đám cưới người Việt hiện đại, và người Trung Quốc. Mang lại nhiều may mắn và điều tốt lành cho cô dâu chú rể trong ngày trọng đại nhất của cuộc đời.

Các bài viết liên quan: